• tin-tuc-4
  • tin-tuc-5
  • Tập huấn kĩ năng vận động chính sách cho cán bộ xã và nông dân nòng cốt của 3 tỉnh.
  • Phân ủ hữu cơ vi sinh: an toàn, tiết kiệm và hiệu quả
  • Nông dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên thăm nhóm tín dụng tiết kiệm tại tỉnh Phú Thọ.

Tết Đồng bào dân tộc thiểu số có gì khác

Tết Nguyên Đán của Việt Nam là dịp duy nhất trong năm có sự sum họp đầy đủ của tập thể gia đình, gia tiên và gia thần. Con cháu dù đi làm ăn ở đâu ngày Tết cũng cố gắng về đoàn tụ với gia đình; hương hồn ông bà tổ tiên các thế hệ cũng cùng về gặp mặt; các vị thần phù hộ cho gia đình đều được cúng bái.

Ở khu vực miền núi phía Bắc nước ta là nơi cư trú lâu đời của phần đông dân tộc ít người như Mường, Tày, Thái, Dao … Phong tục đón Tết của mỗi dân tộc có những nét độc đáo riêng tạo nên bản sắc văn hóa đặc sắc cho cộng đồng dân tộc mình trong bức tranh đa dạng về phong tục đón Tết của các dân tộc thiểu số.

Tết của người Mường với hát sắc bùa

f7

 

Người Mường là thổ dân lâu đời của nước ta, định cư chủ yếu ở Phú Thọ, Hòa Bình. Dân tộc Mường thường sống trong các thung lũng được khép kín bởi những triền núi đá vôi bao quanh. Tết của người Mường có một phong tục đặc sắc mà họ còn lưu giữ được là hát sắc bùa. Đây là một thể loại hát chúc tụng năm mới không thể thiếu.

Ngày mồng Một Tết là ngày thờ cúng tổ tiên của người Mường. Mùng Hai Tết mới là ngày các phường bùa bắt đầu đi chúc Tết.  Phường bùa là tập hợp những người thạo đánh cồng, chủ yếu là các trai thanh gái lịch chưa có vợ chồng. Phường không có quy chế: ngày thường không có đóng góp, hội họp, luyện tập. Sinh ra và lớn lên trong các làng Mường, ngay từ nhỏ họ đã được nghe, được thấy, được đánh thử tiếng cồng, sắc bùa đã ngấm vào tâm khảm để đến độ 15-17 tuổi, họ đã bắt đầu gia nhập phường bùa để đi chúc tết trong làng và khắp làng trên xóm dưới.Trước Tết ít hôm, phường bùa tập trung những cồng tốt trong làng lại thành một bộ, để ở một nhà chắc chắn, rộng rãi trong làng. Phường bùa bắt đầu xuất phát từ nhà để cồng và đi tới các gia đình hát mừng năm mới với những nội dung như ca ngợi gia cảnh, đời sống sung túc, ăn nên làm ra của chủ nhà.

Huyền bí Tết nhảy của người Dao đỏ trên vùng đất tổ


f8

Vốn có bản sắc văn hóa riêng biệt và độc đáo, nên Tết của người Dao đỏ cũng mang nhiều nét đặc trưng cho đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc mình. Đến nay, dù đời sống đã phát triển hơn về mọi mặt, song đồng bào người Dao đỏ vẫn giữ được những phong tục đón Tết truyền thống.

Người Dao đỏ cho rằng, ngày đầu năm không được làm việc mà chỉ vui chơi, thăm viếng và chúc tụng lẫn nhau. Nhà nào nhà ấy đều trang hoàng sáng sủa và dán nhiều câu đối bằng chữ Hán lên cột nhà hay trên các vách tường để đón mừng xuân.

Người Dao đón Tết bằng Tết Nhảy gọi là "Nhiang chằm Đao" là một nghi lễ đặc biệt trong thờ cúng tổ tiên đồng thời cũng để rèn luyện sức khỏe và võ nghệ. Tết Nhảy bắt đầu trước Tết Nguyên Đán khoảng vài ba hôm và diễn ra trong ba ngày ba đêm làm lễ, mỗi ngày phải hát và nhảy hết 12 bài cúng.

Gia đình tổ chức Tết nhảy phải chuẩn bị rất kĩ về lương thực để dâng cúng Tổ tiên và thiết đãi bà con tham dự, tuy nhiên nếu như gia đình chưa lo được hết thì những gia đình khác sẽ cùng đứng ra lo liệu và bà con đến tham dự đều góp với chủ nhà con gà, cân gạo, chai rượu hoặc tiền. Trong thời gian diễn ra Tết nhảy, gia chủ cùng bà con vừa cúng, vừa uống rượu, ăn cỗ, múa hát thay phiên nhau liên tục trong nhiều ngày. Điệu múa chuông và múa kiếm, mỗi điệu được thực hiện 36 lần; điệu múa rùa từ 6 đến 9 lần. Những người múa trong Tết nhảy là nam giới không phân biệt tuổi già hay tuổi trẻ hoặc vùng miền. Tất cả những động tác của các điệu múa đều được thực hiện một cách liên tục với sự khéo léo và tinh tế của người trình diễn. Điệu múa, lời hát trong Tết Nhảy thường hướng đến những điều tốt lành, hạnh phúc.

Tết nhảy của người Dao thể hiện rõ nét tình cảm gắn bó trong cộng đồng, rộng hơn là khối đại đoàn kết dân tộc. Đây cũng là dịp để người Dao ôn lại lịch sử gia đình, lịch sử của dân tộc; ôn lại vốn văn hoá truyền thống của dân tộc mình thông qua nội dung những bài khấn, những lời ca, điệu múa đặc sắc.

Người Thái ở Hòa Bình và những nét riêng đón Tết cổ truyền


f9

Đối với người Thái, thường 25 tháng Chạp là phiên chợ cuối cùng, lớn nhất trong năm, sau đó là nghỉ ngơi chơi Tết. Sáng ngày 27 hoặc 28 tháng Chạp, ông trưởng bản chủ trì tổng vệ sinh cho cả bản. Tối 29 bắt đầu gói bánh chưng và sáng 30 nhà nhà luộc bánh trưng.

Người Thái thường gói hai loại bánh chưng màu đen và màu trắng. Để làm bánh màu đen, họ đốt rơm lên, lấy tro giã lẫn gạo nếp rồi sàng sạch muội tro mà vẫn giữ lại màu đen. Nhiều nơi không cho nhân bánh. Người ta quan niệm hương vị của Tết ở trong bánh chưng chủ yếu thể hiện ở hương vị của lá dong, và đó cũng là cái chủ yếu để dâng lên tổ tiên (ma nhà).


f10

Cũng không thể không nhắc tới phong tục gọi hồn của người Thái. Vào tối 28, 29 hoặc 30, gia đình người Thái thịt hai con gà, một con gà để cúng tổ tiên, một con gà dùng để gọi hồn cho mọi người trong nhà.

Sáng mùng Một, người Thái dậy sớm, múc nước luộc bánh chưng cho mỗi người uống một ít. Phụ nữ trong nhà hôm mùng Một Tết được đem xôi đã đồ ra quạt ở giữa gian cúng ma nhà. Sau đó người ta dọn ra hai hoặc ba mâm cúng, mâm đặt trên cao là để cúng tổ tiên nhà chồng, còn mâm thấp hơn cúng tổ tiên nhà vợ. Cúng xong, tất cả con trai trong nhà để cho phụ nữ ăn trước, và chỉ như vậy mỗi ngày mùng Một Tết (hàng ngày, phụ nữ ăn cùng hoặc ăn sau đàn ông).

Bữa cơm Tết của người Thái có một món không thể thiếu, đó là cá, với các món nướng, chua, khô. Người Thái kiêng vứt lá dong xuống gậm sàn, kiêng quét nhà vào ngày mùng Một Tết. Tối ngày mùng Một họ đã làm lễ tạ.

Bữa cơm cúng tổ tiên của người Tày trong ngày Tết


f11

Tết của người Tày, công việc quan trọng nhất là thờ cúng tổ tiên và cúng theo từng mâm nhỏ. Bàn thờ tổ tiên (bậc cao nhất) được treo ở góc tường thẳng cửa voóng chính, còn 3 mâm thờ nhỏ hơn đặt dưới ban thờ tổ tiên (là bậc thấp hơn). Ngoài thờ cúng tổ tiên, người Tày còn thờ vua bếp, thổ công; đây là những vị thần cai quản và trông giữ nơi họ sinh sống nên tất cả các gia đình đều làm lễ thờ trong mấy ngày Tết với mong muốn các vị thần sẽ che chở, bảo vệ cho gia đình. Nếu gia đình nào có cha mẹ vừa mất thì phải làm thêm một mâm thứ tư.

Trên mâm cúng đều được đặt bằng lá chuối gồm có rượu, xôi trắng đồ trứng kiến gói lá dong, thịt lợn, thịt gà và cá suối đồ nõn chuối; ngoài ra, còn có món bánh đặc trưng không thể thiếu trong mâm cỗ cúng là bánh chưng và bánh gio. Người Tày gói bánh chưng tròn và dài, nhân bánh ngoài đỗ xanh, thịt lợn còn có hành lá, rau thì là. Bánh gio là loại bánh được làm từ lá và hoa của một loại cây mọc trên rừng có mùi thơm ngậy tựa như lá cây vừng.

Sau khi mâm cỗ cúng được chuẩn bị xong, thầy mo đến làm lễ cúng.

                                                                                                                                                            (Nguồn tổng hợp)