• slide-dantoc1
  • slide-dantoc2
  • slide-dantoc3
  • slide-dantoc4

Dân tộc Sán dìu

San Déo Nhín (Sơn Dao Nhân) chính là tên tự gọi của người Sán Dìu. Ngoài ra, họ có các tên gọi khác như Trại, Trại Ðất, Mán Quần cộc, Mán Váy xẻ... Người Sán Dìu nói thổ ngữ Hán

Hoạt động sản xuất

Người Sán Dìu có làm ruộng nước nhưng không nhiều, canh tác ruộng khô là chính. Ngoài các loại cây trồng thường thấy ở nhiều vùng như lúa, ngô, khoai, sắn... họ còn trồng nhiều cây có củ. Từ rất lâu họ biết dùng phân bón ruộng. Nhờ đắp thêm mũi phụ, lưỡi cày của họ trở nên bền, sắc và thích hợp hơn với việc cày ở nơi đất cứng, nhiều sỏi đá.

Ăn

Người Sán Dìu ăn cơm tẻ là chính, có độn thêm khoai sắn. Sau bữa ăn, họ thường húp thêm bát cháo loãng như người Nùng.

Mặc

Bộ Y phục truyền thống của phụ nữ gồm khăn đen, áo dài (đơn hoặc kép), nếu là áo kép thì bao giờ chiếc bên trong cũng màu trắng còn chiếc bên ngoài màu chàm dài hơn một chút; yếm màu đỏ; thắt lưng màu trắng, hồng hay xanh lơ; váy là hai mảnh rời cùng chung một cạp, chỉ dài quá gối có màu chàm; xà cạp màu chàm; xà cạp màu trắng. Ðồ trang trí gồm vòng cổ, vòng tay, hoa tai và dây xà tích bằng bạc.

Nam giới ăn mặc như người Việt: búi tóc vấn khăn hoặc đội khăn xếp, áo dài thâm, quần trắng.

Họ sống tập trung ở trung du Bắc bộ, trong vùng từ tả ngạn sông Hồng đổ về phía Ðông. Làng xóm của họ tựa như làng người Việt, có luỹ tre bao bọc và giữa các nhà thường có tường hay hàng rào. Ở nhà đất trình tường hay thưng ván.

Cưới xin

Nam nữ được tự do yêu đương nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào "số mệnh" và sự quyết định của bố mẹ.

Ðám cưới gồm nhiều nghi lễ. Ðáng chú ý nhất có lễ khai hoa tửu diễn ra tại nhà gái, trước hôm cô dâu về nhà chồng. Người ra lấy một bình rượu và một cái đĩa, trên đĩa lót hai miếng giấy cắt hoa, miếng trắng để dưới, miếng đỏ để trên, đặt lên trên đĩa hai quả trứng luộc có xâu chỉ đỏ và buộc ở mỗi bên trứng hai đồng xu. Sau khi cúng thì bóc trứng lấy lòng đỏ hoà với rượu để mọi người uống mừng hạnh phúc của cô dâu, chú rể.

Văn hóa - văn nghệ

Giống như nhiều dân tộc khác, người Sán Dìu cũng có hát giao duyên nam nữ mà họ gọi là soọng cô, thường được hát về đêm. Có những cuộc hát kéo dài suốt nhiều đêm.

Ma chay

Khi hạ huyệt, con cái phải từ phía chân quan tài bò một vòng quanh miệng huyệt. Con trai bò từ trái sang phải còn con gái bò từ phải sang trái, vừa bò vừa xô đất lấp huyệt. Lúc đứng dậy, mỗi người vốc một nắm đất và chạy thật nhanh về nhà bỏ vào chuồng trâu, chuồng lợn... với ý nghĩa cho gia súc sinh sôi, nảy nở. Tiếp đó chạy vào nhà và ngồi xuống thúng thóc với quan niệm ai dính nhiều thóc là may mắn. Cuối cùng, mỗi người tự xé lấy một miếng thịt gà luộc để ăn, ai đến trước nhất được mào gà, tiếp theo được đầu, cổ, cánh... Nhà mồ có mái bằng, lợp lá rừng. Khi cải táng, xương được xếp vào tiểu hoặc. chum theo tư thế ngồi và nếu chưa chọn được ngày tốt thì chôn tạm ở chân đồi hay bờ ruộng

 

Một số nét tiêu biểu của người Sán Dìu ở Thái Nguyên

Văn hóa ẩm thực

Không quá cầu kỳ trong cách ăn uống, nhưng cộng đồng người Sán Dìu cũng có những nét riêng, độc đáo trong ẩm thực, góp phần làm phong phú nền văn hóa Thái Nguyên.

Văn hóa ẩm thực của người Sán Dìu cơ bản dựa trên thực vật. Phương thức chế biến lương thực, thực phẩm và cung cách tổ chức bữa ăn có nhiều nét tương đồng với người Kinh.

Hằng ngày, người Sán Dìu ăn cơm tẻ với rau xào, rau luộc chấm muối ớt. Thức ăn chế biến từ động vật không có thường xuyên và được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau. Những đặc tính tộc người trong ẩm thực của người Sán Dìu được thể hiện rõ nhất qua những bữa ăn trong dịp lễ Tết hay những mâm cơm có sự góp mặt của cộng đồng. Ngày Tết Nguyên đán, ngoài các món ăn được chế biến từ thịt gà, thịt lợn họ còn có nhiều loại bánh: Bánh Chưng (Bao chổng), bánh dày, bánh trôi, bánh chay (chấy), chè lam (Chạ lam). Vào dịp Thanh minh hằng năm, người Sán Dìu bắt buộc phải cúng tổ tiên bằng xôi đen. Để làm loại xôi này, người ta lấy lá lau sau (một loại lá nhỏ có nhiều ở địa phương), giã nhỏ lọc lấy nước ngâm với gạo nếp trước khi cho vào chõ đồ. Xôi đen làm bằng nếp cái hoa vàng, hoặc nếp câu, vừa dẻo, thơm vừa có hương vị đặc biệt của lá lau sau.

Ngoài ra trong các dịp lễ tết, người Sán Dìu còn gói các loại bánh tượng trưng cho các con giống như bánh con gà (cậy công tạp), bánh con vịt (ạp công tạp). Các loại bánh này đều làm bằng gạo nếp và gói bằng lá dứa dại.

Độc đáo nhất trong số các loại bánh của người Sán Dìu là bánh trứng kiến (ngáy Dun bẻng). Người ta lấy trứng kiến đen làm nhân, bên ngoài bọc bột nếp và gói bằng lá vả (ngõa) xong lại bọc thêm lớp lá chuối và cho vào chõ đồ, khi ăn chỉ cần bóc lá chuối ăn cả lá vả.