• slide-dantoc1
  • slide-dantoc2
  • slide-dantoc3
  • slide-dantoc4

Dân tộc Dao

Dân tộc Dao thuộc nhóm ngôn ngữ H’mông - Dao, chia ra thành nhiều nhóm khác nhau với những nét riêng về phong tục tập quán mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y, Dao Áo Dài, Dao Quần Trắng,... Mặc dù, họ có nhiều nhóm người khác nhau như vậy nhưng ngôn ngữ của họ là thống nhất để đảm bảo mối quan hệ gắn kết giữa các cộng đồng người Dao với nhau.

Hoạt động sản xuất: hình thức canh tác trên nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở đồng bào Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai...Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê. Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Ăn

Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc

Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chảy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi phía Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Cưới xin

Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Văn hóa - văn nghệ

Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo. Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Ma chay

Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.

Một số nét tiêu biểu của người Dao ở Phú Thọ

Người Dao ở Phú Thọ hiện có hơn 11.000 người sống trong 28 bản ở các huyện miền núi Tân Sơn, Thanh Sơn và Yên Lập. Đồng bào thuộc hai nhóm khác nhau: người Dao Đeo Tiền (Dao Tiền) thuộc nhóm Tiểu Bản và người Dao Quần Chẹt thuộc nhóm Đại Bản.

Tục ngủ thăm:

Đồng bào Dao hiện vẫn giữ tục ngủ thăm. Ngủ thăm để biết chắc chắn hai người lấy nhau sẽ sinh con đẻ cái. Vì thế, giường của các cô gái lớn chưa chồng thường kê ở cuối nhà cạnh cửa ngách để đêm đêm con trai tiện cạy cửa vào ngủ thăm. Nếu cô gái bằng lòng thì anh con trai có thể ngủ liền hai ba tháng cho đến khi cô gái có mang. Nếu cô gái không bằng lòng mà anh con trai định cưỡng bức thì có thể bị chém chết. Do tục này mà đầu giường các cô gái luôn để sẵn con dao sắc.

 

Khi cô gái có mang, già làng cho gọi tất cả những anh đã từng ngủ thăm với cô gái đến. Mỗi anh mang theo một con gà nhỏ và chai rượu để làm lễ cúng buộm. Riêng anh chàng ngủ với cô gái có mang phải mang lễ đến bằng một con lợn ba bốn chục cân, một chai rượu và một tập giấy bản làm tiền âm.

Cúng buộm xong so tuổi nếu không lấy được nhau thì đứa trẻ sinh ra được cúng làm ma nhà vãi (ông bà vãi). Nó làm con ông bà vãi, gọi người đẻ ra mình là chị. Cô gái đã biết sinh đẻ càng dễ lấy chồng hơn những cô gái tơ. Đó là vì đồng bào quý người. Con đẻ, con nuôi, con cùng dòng máu hoặc khác dòng máu (do vợ ngoại tình) người ta đều quý như nhau. Ngoại tình nếu bị bắt thì nộp lễ cúng buộm xong là thoát tội.

 

Chỉ ở những bản động hạ sơn ở gần người Mường, người Kinh thì tục này mới được xóa bỏ dần. Các địa phương ở trên cao như xóm Cỏi, xã Xuân Sơn, xóm Tân Hồi, Hạ Bằng (xã Kim Thượng), xóm Xinh Tàn, xã Thượng Cửu... thì tục ngủ thăm vẫn duy trì. Xưa người đàn ông Dao Tiền lấy làm tự hào vì vợ mình xinh đẹp mới được nhiều anh đến ăn nằm.