• slide-dantoc1
  • slide-dantoc2
  • slide-dantoc3
  • slide-dantoc4

Các dân tộc trong địa bàn


Dân tộc Dao

Dân tộc Dao thuộc nhóm ngôn ngữ H’mông - Dao, chia ra thành nhiều nhóm khác nhau với những nét riêng về phong tục tập quán mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y, Dao Áo Dài, Dao Quần Trắng,... Mặc dù, họ có nhiều nhóm người khác nhau như vậy nhưng ngôn ngữ của họ là thống nhất để đảm bảo mối quan hệ gắn kết giữa các cộng đồng người Dao với nhau.

Dân tộc Mường

Dân tộc Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường. Mol (hoặc Mon, Moan, Mual) là những tên tự gọi của người Mường. họ cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ở vùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ...

Dân tộc Sán dìu

San Déo Nhín (Sơn Dao Nhân) chính là tên tự gọi của người Sán Dìu. Ngoài ra, họ có các tên gọi khác như Trại, Trại Ðất, Mán Quần cộc, Mán Váy xẻ... Người Sán Dìu nói thổ ngữ Hán

Dân tộc Tày

Tên gọi khác của người Tày là Thổ. Người Tày có các nhóm địa phương là Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí. Tiếng nói của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai). Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Dân tộc Thái

Người Thái có tên tự gọi là Tay hoặc Thay. Ngoài ra, họ còn có những tên gọi khác như Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ. Các nhóm địa phương của người Thái gồm Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao). Nhóm ngôn ngữ của đồng bào Thái là Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai). Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.